Ảnh hưởng của xã hội học tới thiết kế đô thị

Phổ nghiên cứu của Xã hội học

Đối tượng của xã hội học là các nhóm người, trải rộng từ một đôi vợ chồng, gia đình cho tới cộng đồng nhân loại toàn thế giới, với vô vàn cấp phân chia khác nhau. Nội dung quan tâm của xã hội học là những vấn đề cuộc sống của nhóm người đó, như sức khỏe, giáo dục, kinh tế, văn hóa, việc làm, tín ngưỡng, chính trị v.v. Trong đó, yếu tố cân bằng trong sự phân bố quyền lực, quyền lợi, trách nhiệm v.v. giữa các cá thể, bộ phậm trong nhóm là một trọng tâm nghiên cứu. Theo hiệp hội xã hội học Mỹ thì có 46 lĩnh vực nghiên cứu được chính thức công nhận trong ngành xã hội học. Theo hiệp hội toàn cầu thì có 55 nhóm chuyên đề. Trước phổ nghiên cứu rất rộng và phức tạp như vậy, việc đánh giá mối quan hệ giữa xã hội học và thiết kế đô thị, một lĩnh vực cũng phức tạp không kém, là rất khó khăn. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề rất rõ ràng là giao diện quan tâm của cả hai ngành thôi.

Những học thuyết xã hội học có quan tâm tới vấn đề môi trường có thể chia làm 2 loại chính: loại thứ nhất nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường tới con người, loại thứ hai nghiên cứu tác động của con người vào môi trường.

Môi trường à hành vi

Đối với nhóm thứ nhất, nhiều vấn đề xã hội như hành động, mâu thuẫn, sức khỏe, tệ nạn, phân biệt giới tính v.v. được xem như hệ quả của môi trường, trong đó có môi trường đô thị, không gian xây dựng. Mối quan hệ này có nhiều mức độ khác nhau.

Mạnh nhất là quan hệ nhân quả, trong đó một số yếu tố môi trường có tính quyết định đối với cấu trúc xã hội. Quan hệ nhân quả này là cơ sở cho những cách quy hoạch đô thị từ trên xuống truyền thống. Trường phái nghiên cứu quan hệ này là dòng Chicago thời đầu thế kỷ 20 (Park và cộng sự 1925). Chẳng hạn họ cho rằng giá đất là một yếu tố thuộc môi trường đô thị, chủ yếu phụ thuộc vào vị trí khu đất, sẽ quyết định đối tượng và hình thức sử dụng. Đất càng đắt thì sử dụng càng phải triệt để. Từ đó dẫn tới những đối tượng giàu, loại hình công năng đắt tiền, hoặc là mật độ phải rất cao. Tuy nhiên, thực tế không hẳn lúc nào cũng chứng minh được quan hệ nhân quả này, nhất là ở những trường hợp các khu nhà ở tồi tàn, xập xệ ngay lõi trung tâm. (Wilner và cộng sự 1962) Trong lịch sử, trường phái Chicago dần bị thay thế bởi những trường phái Newyork, Los Angeles là những trường phái mang tính tự do, dân chủ hơn.

Mức quan hệ thấp hơn là quan hệ xác suất. Theo đó thì một cấu trúc không gian có thể dẫn tới khả năng cao hơn cho việc xuất hiện một hiện tượng xã hội học nào đó. Chẳng hạn một cấu trúc quy hoạch khu ở nhất định có thể làm tăng xác suất giao tiếp giữa các cư dân. (Festinger et al.1950; Whyte 1956) Với một số cấu trúc khu ở đặc biệt hấp dẫn đối với một số nhóm đối tượng nhất định có thể làm tăng xác suất lôi kéo được nhóm này tới định cư. Những cộng đồng cư dân đó được gọi là cộng đồng được trù tính trước – constrived community. (Gerald Suttles, 1972)

Mức thứ ba là điều kiện cần, có nghĩa là một cấu trúc không gian có thể không nhất thiết dẫn tới một hệ quả xã hội, nhưng là một trong những điều kiện cần để hệ quả đó có thể xảy ra. (Michelson 1977). Những nghiên cứu về quy hoạch, nhất là lĩnh vực nhà ở nửa sau thế kỷ 20 chủ yếu tập trung vào hướng này. Ý tưởng của trường phái này không nhấn mạnh việc áp đặt các công năng sử dụng dựa trên khống chế về không gian, mà là phát huy xã hội dân chủ dựa trên việc tạo nhiều cơ hội cho sự linh hoạt tự quyết của các phần tử.

Điều trớ trêu là mức quan hệ lỏng lẻo nhất thứ 3 này lại là mức thường gặp nhất trên thực tế. Như vậy có nghĩa là nhà thiết kế đô thị có rất ít cơ sở để nói rằng thiết kế của mình sẽ dẫn tới điều gì. Chủ yếu là anh ta có thể cố gắng chỉ ở mức sao cho thiết kế của mình sẽ đảm bảo những điều kiện cần để không dẫn tới những thảm họa.

Gần đây, các nhà xã hội học tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ vi mô giữa những không gian đô thị cụ thể, rất nhỏ đối với hành vi của người sử dụng và đưa ra nhiều gợi ý cho thiết kế đô thị. (Michelson, Van Vliet 2002)

Năm 1970, một số chuyên gia liên ngành ở bắc mỹ tập hợp thành một nhóm chuyên nghiên cứu về thiết kế môi trường -Environmental Design Research Association (EDRA). Tổ chức này xuất bản tạp chí Môi trường và hành vi, (Environment and Behavior) rất có uy tín, và đã khuyến khích hàng loạt nghiên cứu trong lĩnh vực này suốt thập kỷ 70. Một trong những dòng chính là của các nhà tâm lý học môi trường. (Proshansky 1970; Toepfer 1972; Ittelson 1974; Heimstra, McFarling 1974; Gifford 1987; Bonnes, Secchiaroli 1995) Ngoài ra còn có bên địa lý  (Rapoport 1977) và xã hội học. (Michelson 1970) EDRA đã làm một cuốn tổng kết những kết quả nghiên cứu của thập kỷ 70. (Moore et al. 1985) Ngoài ra có cuốn sổ tay về tâm lý học môi trường (Stokols and Altman 1987) và cuốn sổ tay về xã hội học môi trường(Dunlap and Michelson 2002), là những cuốn sách liệt kê những đóng góp của ngành xã hội học trong thời gian đó vào lĩnh vực thiết kế đô thị.

Ở Châu Âu, đặc biệt các nước ở Scanđinavi, Hà Lan, nghiên cứu những vấn đề rất cụ thể, thực tiễn xem một số cấu trúc không gian đô thị cụ thể có hiệu quả như thế nào và đưa ra nhiều bài học kinh nghiệm trong cả lĩnh vực nhà ở, không gian công cộng, môi trường làm việc v.v. (Thiberg 1985).

Tổ chức không gian đô thị  truyền thống tại Việt Nam cho phép nhiều giao tiếp xã hội diễn ra?

Tổ chức không gian đô thị truyền thống tại Việt Nam cho phép nhiều giao tiếp xã hội diễn ra?

Hành vi và môi trường

Nhóm thứ hai của xã hội học nghiên cứu những ảnh hưởng của hoạt động sống xã hội tới môi trường. Nhóm này thường được gọi là chủ nghĩa cấu trúc, với quan điểm cấu trúc xã hội sẽ dẫn tới cấu trúc không gian.

Giữa những năm 20, một nhóm xã hội học đã phản biện trường phái Chicago nói trên bằng một ví dụ là một cộng đồng dân cư đã chủ động bảo vệ một cấu trúc không gian phù hợp với tập quán, văn hóa, quan niệm sống của họ. Từ đó cho thấy một cấu trúc không gian ban đầu có thể được quy hoạch từ trên xuống, nhưng việc nó có tồn tại được lâu hay sẽ bị thay đổi là do con người sử dụng quyết định. (Firey 1947). Một số nhà xã hội học tập trung nghiên cứu sự tồn tại và tầm ảnh hưởng của các nhóm lợi ích khác nhau trong một bối cảnh không gian, để đưa ra nhận định về độ ổn định hay chiều hướng thay đổi của nó. (Form 1954; Long 1958). Tuy nhiên họ không đưa ra những mô hình cứng về quan hệ nhân quả, vì họ cho rằng những nhóm lợi ích và tương quan lực lượng của chúng có thể thay đổi rất linh hoạt trong thời gian và ai thắng ai thua khó mà biết trước được.

Trong bối cảnh bất ổn chính trị của thời kỳ sau chiến tranh Việt nam, học thuyết của Marx lại được hồi sinh trong lĩnh vực xã hội học đô thị. Người ta cho rằng không phải những bối cảnh không gian có tính quyết định tới cấu trúc xã hội như trường phái Chicago nói, mà những cấu trúc xã hội, đặc biệt là cấu trúc giai cấp, quan hệ sản xuất, phân bố tư bản , phương thức sản xuất v.v. là yếu tố quyết định tới sự phát triển cũng như hình thức, cấu trúc đô thị. (Pahl 1970; Castells 1978; Tabb, Sawers 1978, 1984; Lefebvre 1991, 1996) Đặc biệt quan trọng là cuốn sách của John Logan và Harvey Molotch (1987). Hai ông này nghiên cứu hiện tượng tất cả các thành phố khi phát triển đều rất tập trung vào một số hạng mục như sân vận động, trung tâm hội nghị, khách sạn và một số công trình vui chơi, du lịch hoành tráng. Họ nhận ra đằng sau tất cả những dự án đấy có cùng một dạng nhóm lợi ích, với những thế lực tài phiệt, chính trị v.v. là những nhóm được hưởng lợi nhiều nhất từ những dự án này. Cấu trúc nhóm lợi ích đặc trưng này được họ gọi là cỗ máy phát triển đô thị. Đặc điểm nổi bật của cỗ máy phát triển đô thị này là lái trọng tâm của quy hoạch theo hướng phát triển và ngày càng tập trung tư bản trong tay một nhóm nhỏ thay vì phân phối công bằng cho toàn xã hội. Nói cách khác, khái niệm phát triển ở đây thực chất không phải là phát triển chung cho toàn xã hội, mà là sự phát triển tập trung cho quyền lợi của một nhóm. Gottdiener and Hutchison (2000) với cuốn xã hội học đô thị mới, phân tích kỹ hơn về các cấu trúc thế lực trong xã hội và sản phẩm không gian của chúng.

Một nhánh nhỏ trong xu hướng nói trên nghiên cứu riêng về vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong quan hệ giữa bộ máy quyền lực và giải pháp không gian này. John Hannigan (1998) phân tích tại sao các cỗ máy phát triển đô thị lại đặc biệt chú trọng phát triển những khu vui chơi giải trí, được gọi là đô thị tưởng tượng  -Fantasy city. Mark Gottdiener (1997) cho đó là một giải pháp rất đặc trưng của văn hóa Mỹ. Sharon Zukin (1995) thì cho rằng văn hóa nghệ thuật là một công cụ cơ bản để giữ sức sống đô thị và mức ổn định của nguồn thu thuế.

Lý thuyết về nhà ở cũng có những thay đổi đáng kể. Logan và Molotch cho rằng tiêu chí của quy hoạch nhà ở là lãi suất cho một nhóm quyền lực chứ không phải giá trị sử dụng hay việc nâng cao mức sống của người dân. (2007)

Phương pháp nghiên cứu

Những lĩnh vực giao diện giữa xã hội học và thiết kế đô thị đòi hỏi những phương pháp nghiên cứu đặc biệt.

Quan sát:

Phương pháp quan sát có hai loại: có tham gia và không tham gia (của người quan sát)

Trong phương pháp quan sát có tham gia, người quan sát phải tự đặt mình vào bối cảnh nghiên cứu, để trực tiếp cảm nhận và thấu hiểu được mối quan hệ giữa hành vi của con người và bối cảnh không gian cụ thể đó.

Herbert Gans (1962, 1967) là một ví dụ điển hình về sử dụng quan sát có tham gia. Ông đã sống trong và quan sát trực tiếp một khu dân cư người Ý ở nội đô Boston và đưa đến kết luận là cấu trúc đô thị ở đó đã hỗ trợ sự phát triển các quan hệ xã hội như thế nào. Trong khi đó ở một khu đô thị mới Levittown thì môi trường đô thị chỉ phù hợp với một nhóm người trong xã hội, tại một quãng đời nhất định là họ đang có con nhỏ chứ không làm nảy sinh những quan hệ xã hội đa dạng.

Jan Gehl, kiến trúc sư Đan Mạch, lại là đại diện cho phương pháp quan sát thứ hai, tức là không có sự tham gia, mà là quan sát từ bên ngoài. Về cơ bản, phương pháp này không dựa trên trải nghiệm thấu hiểu cá nhân đối với một tình huống cụ thể, mà là kết quả thống kê của nhiều quan sát. Ông sử dụng những số liệu qua nhiều thập kỷ, so sánh nhiều nơi trên thế giới để rút ra quy luật về cách thức người dân đô thị sử dụng những không gian trống trong đô thị như thế nào.

Nghiên cứu tổng quan – survey.

Nếu như ưu điểm của phương pháp quan sát là những thông tin trực tiếp của người nghiên cứu thì nhược điểm của nó lại chính là giới hạn của cá nhân người nghiên cứu. Trong khi đó, phương pháp nghiên cứu tổng quan là tổng hợp tất cả các nguồn thông tin sơ cấp, thứ cấp, nhằm vượt qua giới hạn cá nhân của một người.

Nghiên cứu tổng quan có thể tiến hành theo chiều ngang, tức là đối với nhiều đối tượng trong một thời điểm, hoặc là theo chiều dọc, nghĩa là nghiên cứu sự thay đổi của cùng đối tượng trong thời gian.

Một cách khác là nghiên cứu những hoạt động của một đối tượng trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn một ngày, một tuần. Khi đó người ta sẽ trả lời những câu hỏi làm gì, bao lâu, ở đâu, với ai, cảm nghĩ thế nào v.v. Tất cả cho phép hình dung những hoạt động tương đối chi tiết của con người và cộng đồng.

(Michelson 2005).  Phương pháp này đặc biệt quan trọng trong quy hoạch giao thông và các không gian công cộng. Người ta cũng dùng phương pháp này để nhận ra những vấn đề về tâm lý và cảm nhận chủ quan và áp dụng vào thiết kế đô thị, chẳng hạn thông qua việc lập bản đồ nhận thức – cognitive mapping, đánh dấu những ấn tượng chủ quan của người dân đối với các không gian đô thị khác nhau.

Phương pháp mô hình

Trên cơ sở đưa ra những giả thuyết về hành vi, ứng xử của con người trong các bối cảnh khác nhau cũng như quy luật về ảnh hưởng của chúng ngược lại vào môi trường, người ta có thể tạo ra những mô hình máy tính để dự đoán những gì sẽ xảy ra. Sim City là một trong những trò chơi mô hình hóa này. Với sự phát triển của khoa học máy tính, các mô hình ngày càng phức tạp và đáp ứng nhiều câu hỏi đặt ra hơn.

Ở các nước bắc âu, việc mô hình hóa được làm rất nhiều trong những phòng thí nghiệm lớn. Người ta dựng lên những bối cảnh máy tính như thật rồi cho các đối tượng nghiên cứu vào tương tác và ghi chép lại quá trình đó. Người ta thử phản ứng của những người dân trong các mẫu chung cư khác nhau, đặc biệt đối với những giải pháp mới như sử dụng vách ngăn di động, của bác sỹ, bệnh nhân và các loại đối tượng trong một thiết kế bệnh viện v.v.

Phân tích sử lý số liệu có sẵn

Những phương pháp nêu trên chủ yếu hướng tới việc thu thập những thông tin mới về vấn đề cần nghiên cứu. Tuy nhiên, trong thập kỷ gần đây, nỗ lực chính lại là ở chỗ làm thế nào tận dụng và sử lý được những nguồn số liệu khổng lồ sẵn có tại các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu v.v. Với sự phát triển công nghệ thông tin, các nhà khoa học hiện nay có một lượng thông tin không thể hình dung nổi trước đây. Chẳng hạn số liệu của công an về địa điểm xảy ra tội phạm trong các khu ở đã giúp Oscar Newman rất nhiều trong nghiên cứu của ông về những mô hình không gian có tính an toàn cao.

Nhìn chung, các nhà khoa học sẽ kết hợp hình thức desk review, nghiên cứu tổng quan những tài liệu đa dạng sẵn có, rồi kết hợp với quan sát và phỏng vấn để có được thông tin xác thực nhất. Do việc thu thập thông tin nhiều nguồn như vậy, nên đối tượng thường được giới hạn ở những case study cụ thể.

Tổng kết:

Rõ ràng là lĩnh vực xã hội học có rất nhiều ảnh hưởng tới thiết kế đô thị. Nhưng những ảnh hưởng này khó mà nói cụ thể ra được thành quy luật rõ ràng. Một trong những nhận thức của ngành xã hội học là mọi thứ không hề đơn giản và không tuân theo những quy tắc cứng nhắc, tổng thể. Người thiết kế phải biết luôn luôn đi từ những kinh nghiệm rất nhỏ, lựa chọn những giải pháp cụ thể, tùy vào từng tình huống để tạo thành thiết kế chung. Christopher Alexander là một trong những người đi tiên phong về cách tiếp cận này. Ông đã chỉ ra được rất nhiều những bài học kinh nghiệm ở tầm vi mô. Tuy nhiên, bài toán của nhà thiết kế là làm sao kết hợp những mảnh vụn nhỏ thành một tổng thể hài hòa, ít mâu thuẫn nhất. Một thiết kế đô thị có áp dụng được những kiến thức xã hội học chắc chắn phải là kết quả của một nghiên cứu về cũng như thương lượng giữa, với các bên liên quan, làm sao để vừa đáp ứng được những nhu cầu, lợi ích của họ, vừa đảm bảo được tổng hòa xã hội.

Thư mục tham khảo:

William Michelson

Phó Đức Tùng lược dịch từ sách Đồng hành cùng thiết kế đô thị / Phần III: Những ảnh hưởng / Chương 19:  Những ảnh hưởng của xã hội học tới thiết kế đô thị

Giới: Nhằm mục đích hợp tác, mở rộng kiến thức về thiết kế đô thị, một số thành viên trong nhóm dothivietnam@googlegroups.com đã nỗ lực lược dịch cuốn “Companion to Urban Design”, bao gồm 9 phần. Chúng tôi luôn hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình