Ba đặc khu kinh tế mới: cần kết nối tốt để bù lại địa điểm xa xôi

Đây là hai câu trả lời phỏng vấn của tôi cho một tờ báo lớn ở Việt Nam về vấn đề phát triển đặc khu kinh tế. Bài phỏng vấn này sau đó không được sử dụng.

Báo XXX số ra ngày hôm nay (24-8) có đề cập đến việc giành cơ chế vượt trội cho các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Theo đó, mỗi đặc khu sẽ khai thác lợi thế riêng như Vân Đồn là các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, du lịch sinh thái, văn hóa; Bắc Vân Phong là các ngành công nghệ thông tin, cơ khí, điện tử; phát triển cảng biển hàng hóa và hành khách quốc tế, trung tâm thương mại – tài chính gắn với cảng biển; Phú Quốc là du lịch và các ngành dịch vụ cao cấp.

IMG_1318

Tác giả tại một khu công nghệ tại Thâm Quyến, đặc khu thành công nhất trên thế giới nhở vị trí chiến lược và chính sách hợp lý.

Hỏi: Theo Quy hoạch sư, trong quá trình phát triển đặc khu theo lợi thế riêng của từng vùng, xét về mặt kiến trúc và quy hoạch, cần chú ý nhất đến vấn đề gì?

Đáp: Với việc chúng ta lựa chọn đặc khu là những khu vực ở vị trí cách xa các trung tâm kinh tế hiên hữu của cả nước là vùng Thành phố Hồ Chí Mình và Hà Nội nhưng lại đặt mục tiêu rất tham vọng là phát triển các ngành mà cần hạ tầng mềm nhiều hơn là cứng như công nghệ cao, công nghệ thông tin, tài chính, thì ba yếu tố sống còn để thành công là chính sách tốt (không chỉ ưu đãi), kết nối tốt và nguồn nhân lực tốt cộng với một yếu tố phụ là môi trường sống tốt cả về hạ tầng, thiên nhiên và văn hóa. Nói như vậy có nghĩa là quy hoạch có vai trò để giúp các đặc khu này thành công nhưng không phải là yếu tố sống còn, nhất là trong giai đoạn đầu. Quy hoạch tốt sẽ giúp cho các đặc khu này phát triển bền vững lâu dài khi mà đã thu hút được đầu tư và nguồn nhân lực, tránh tình trạng đi xuống của môi trường sống như ta thấy ở các đô thị lớn: tắc nghẽn giao thông, ngập lụt, ô nhiễm không khí và nguồn nước,v.v… Trước mắt, vai trò của quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch quốc gia và vùng là giúp cho các đặc khu này trở thành phần tích hợp của ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc, Trung và Nam và là một phần mở rộng của các trung tâm kinh tế trong vùng như Singapore và Hồng Kông thông qua kết nối giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Nếu có điềm gì cần chú ý về quy hoạch của bản thân ba đặc khu này thì đó là: giành đất dự trữ để phát triển lâu dài, bảo tồn thiên nhiên và đặc biệt là các vùng trữ nước (cả ba đặc khu đều có hạn chế về cấp nước ngọt) và phát triển gọn nén ở mức có thể và cuốn chiếu để tối ưu đầu tư hạ tầng.

Hỏi: Theo thời gian, việc các đặc khu này thành công có thể kéo theo làn sóng đầu tư và di dân từ những vùng khác. Điều này có thể dẫn tới việc quá tải dân số, dịch vụ. Vậy theo Quy hoạch sư, phải chăng nên đặt giới hạn dân số ngay từ đầu và quy hoạch như thế nào để vừa đảm bảo sự phát triển bền vững nhưng cũng không bị quá tải bởi áp lực dân số như các thành phố lớn của Việt Nam đang gặp phải?

Đáp: Tạo ra các đặc khu kinh tế và các đô thị mới không phải là một việc dễ dàng. Nghe có vẻ bi quan nhưng thực tế là chúng ta không có một bảng thành tích tốt lắm về việc phát triển các khu kinh tế và các đô thị mới. Phần lớn đến nay vẫn là những quy hoạch treo (như Hòa Lạc), những khu đất trống trơn (như Nhơn Hội) hoặc dựa hoàn toàn vào một nền nhà máy (như trường hợp Dung Quất, Vũng Áng). Do đó mà nếu ba đặc khu mới này phải đối mặt với làn song di dân từ các vùng khác thì thật đáng mừng. Chắc chắn trong các quy hoạch của mỗi đặc khu sẽ phải xác định quy mô dân số và đề xuất hệ thống hạ tầng tương đương quy mô dân số đó. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là phải đặt giới hạn dân số. Gia tăng dân số cơ học là chỉ dấu của thành công bởi phản ánh tính hấp dẫn của các đặc khu cũng như nhu cầu lao động của những nơi này. Do đó mà trong quá trình vận hành, quy hoạch cũng sẽ phải điều chỉnh, thường là năm năm một lần, để đáp ứng tình hình mới. Nhưng nếu quả thật mà tăng dân số cơ học xảy ra ở quy mô lớn thì thật là điều đáng mừng.